Bảng giá sầu riêng cuối tháng 9/2026 đứng yên trọn một phiên, nhưng phía sau sự yên ắng đó là một cấu trúc giá khá lạ: giống Thái được trả cao nhất ở Tây Nguyên, còn giống Ri6 lại được trả cao nhất ở miền Tây Nam Bộ. Cùng lúc, Trung Quốc hút thêm hàng cho hai dịp lễ liên tiếp, trong khi vụ thu hoạch Tây Nguyên đã qua cao điểm.

Số liệu giá trong bài lấy từ Giá Nông Sản 247 lúc ~07:30 ngày 27/09/2026; thông tin thị trường tổng hợp từ các nguồn dẫn trong bài. Xem giá cập nhật tại https://www.gianongsan247.com/gia-sau-rieng.

Diễn biến giá trong nước

Bảng giá ngày 27/09/2026 niêm yết 31 mức, trải từ 14.000 đồng/kg đến 92.000 đồng/kg — khoảng cách hơn sáu lần giữa loại thấp nhất và cao nhất. Cả 31 mức đều ghi nhận biến động 0,0% so với 24 giờ trước.

Nhóm hàng tuyển của giống Thái chiếm trọn phần trên của bảng giá:

Loại Vùng Giá (đồng/kg)
Sầu Thái loại A cơm chuẩn Đắk Lắk 92.000
Thái A Gia Lai 86.000
Sầu Thái loại A cơm chuẩn Gia Lai 85.000
Sầu Thái loại A cơm chuẩn Lâm Đồng 78.000 – 82.000
Thái A Đắk Lắk 77.000 – 90.000
Thái A Miền Tây Nam Bộ 67.000 – 70.000
Musang King A Đắk Lắk 65.000
Ri6 A Miền Tây Nam Bộ 55.000 – 63.000
Ri6 A Đắk Lắk 35.000

Đầu dưới của bảng giá là nhóm không đạt chuẩn xuất khẩu: hàng dạt Đắk Lắk 28.000 đồng/kg, sầu Thái dạt Đắk Lắk 26.000 – 30.000 đồng/kg, thấp nhất là sầu Thái hàng kem Đắk Lắk 14.000 đồng/kg. Hàng xô AB tại Đắk Lắk ở 45.000 đồng/kg, chưa bằng một nửa hàng tuyển cùng vùng.

Hai vùng, hai trật tự giá

Với giống Thái, Tây Nguyên được trả cao hơn: Thái A tại Gia Lai 86.000 đồng/kg, Đắk Lắk 77.000 – 90.000 đồng/kg, so với 67.000 – 70.000 đồng/kg ở Miền Tây Nam Bộ.

Với giống Ri6, chiều ngược lại còn mạnh hơn. Ri6 A tại Miền Tây Nam Bộ đạt 55.000 – 63.000 đồng/kg, cùng loại ở Đắk Lắk và Gia Lai chỉ 35.000 đồng/kg — chênh 28.000 đồng/kg ở mức trần. Ở phân loại B, Ri6 B miền Tây được trả 40.000 – 48.000 đồng/kg, còn Đắk Lắk và Gia Lai đều 20.000 đồng/kg.

Cùng một tên giống nhưng hai vùng đang bán cho hai nhóm khách khác nhau, do lệch thời điểm vụ. So giá giữa hai vùng vì vậy cần đọc kèm tên vùng.

Thị trường Trung Quốc: mua nhiều hơn, trả ít hơn

Trung Quốc chiếm hơn 90% lượng tiêu thụ sầu riêng toàn cầu và vẫn tăng nhập. Theo ông Wang Jun, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Trung Quốc, bảy tháng đầu năm 2026 nước này nhập 1,45 triệu tấn, tăng 45% so với cùng kỳ; cả năm 2025 là 1,87 triệu tấn, gấp đôi năm 2022. Nhưng tại chợ đầu mối Giang Nam (Quảng Châu), giá tháng 8/2026 ở mức 28 – 31 nhân dân tệ/kg, thấp hơn mức 29 – 39 nhân dân tệ/kg cùng kỳ năm trước; giá bán lẻ giảm gần một nửa, về dưới 40 nhân dân tệ/kg (CafeF, 24/8/2026).

Sức ép giá mang tính khu vực. Cơ quan Tiếp thị Nông nghiệp Liên bang Malaysia (FAMA) cho biết giá Musang King tại Malaysia giảm khoảng 90%, từ 90 – 100 ringgit/kg về khoảng 9 ringgit/kg; Trung tâm Nghiên cứu Kasikorn (Thái Lan) tính giá bình quân năm 2025 của Thái Lan là 92,5 baht/kg, so với 108,7 baht/kg giai đoạn 2019 – 2024. Cùng nguồn, năm 2025 Việt Nam lần đầu vượt Thái Lan về lượng sầu riêng tươi vào Trung Quốc với 941.000 tấn, so với 920.749 tấn (Vietnambiz, 8/7/2026).

Xa hơn, Trung Quốc đang tự trồng: diện tích tại Hải Nam khoảng 3.300 ha nhưng chỉ 30% cho trái, tập đoàn Guolian đặt mục tiêu hơn 6.700 ha trong ba năm (CafeF, 14/9/2026).

Những lực đang tác động

Nguồn cung cuối vụ. Vùng sầu riêng Đắk Lắk đã qua cao điểm thu hoạch, hiện chỉ còn một số địa phương như Krông Búk, Ea H'leo, Krông Năng và Buôn Hồ tiếp tục thu hái, khiến lượng hàng ra thị trường giảm so với tháng 8 và đầu tháng 9. Cũng theo nguồn này, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và Hiệp hội Rau quả Việt Nam ghi nhận Trung Quốc tăng nhập để chuẩn bị cho Trung thu và Quốc khánh 1/10, với yêu cầu chất lượng phần nào ít khắt khe hơn trước (Thanh Niên, 17/9/2026).

Xuất khẩu chung. Theo Cục Hải quan, xuất khẩu rau quả tháng 9/2026 sơ bộ đạt 1,1 tỷ USD, tháng thứ ba liên tiếp vượt mốc 1 tỷ USD; lũy kế từ đầu năm khoảng 7,3 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ 2025, riêng Trung Quốc 3,9 tỷ USD, tăng 39% tính đến hết tháng 8 (Thanh Niên, 21/9/2026). Riêng sầu riêng, tám tháng đầu năm thu về 1,95 tỷ USD, Trung Quốc chiếm 1,85 tỷ USD, tương đương 95% (CafeF, 3/9/2026).

Siết truy xuất nguồn gốc. Việt Nam có 1.599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói đủ điều kiện xuất khẩu, sau khi Tổng cục Hải quan Trung Quốc cấp thêm 567 mã trong tháng 8/2026 (CafeF, 3/9/2026). Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa yêu cầu mỗi lô hàng phải có hồ sơ truy xuất đầy đủ về vùng trồng và cơ sở đóng gói, gồm sổ ghi chép canh tác, thu hoạch, vận chuyển, đóng gói, khối lượng, kết quả kiểm nghiệm và giấy kiểm dịch thực vật; tỉnh có 21 vùng trồng được cấp mã trên hơn 635 ha, sản lượng dự kiến năm 2026 là 14.724 tấn (Thanh Niên, 11/9/2026).

Góc nhìn của các tổ chức

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp nêu mục tiêu xuất khẩu sầu riêng năm 2026 đạt ít nhất 3,85 tỷ USD — bằng mức cả năm 2025 — và có khả năng tiến tới khoảng 4 tỷ USD (CafeF, 3/9/2026).

Số liệu của Kasikorn và FAMA nêu trên cho thấy mặt bằng giá đã lùi ở cả Thái Lan và Malaysia — áp lực đến từ nguồn cung toàn khu vực, không riêng Việt Nam.

Điều nông dân và thương lái nên theo dõi

  • Tên vùng đi kèm tên giống. Chênh lệch Ri6 A giữa miền Tây và Tây Nguyên hiện tới 28.000 đồng/kg ở mức trần.
  • Tiến độ thu hoạch phần còn lại của Tây Nguyên, nhất là Krông Búk, Ea H'leo, Krông Năng, Buôn Hồ.
  • Nhu cầu sau ngày 1/10, khi hai dịp lễ của Trung Quốc đã đi qua.
  • Hồ sơ truy xuất theo lô — yếu tố quyết định hàng đi được đường chính ngạch hay bị đẩy về nhóm hàng dạt.
  • Giá bán buôn tại chợ đầu mối Trung Quốc, chỉ báo sớm cho giá thu mua tại vườn.

Giá cập nhật nhiều lần mỗi ngày tại trang giá sầu riêng; bản tổng hợp toàn thị trường trong ngày xem tại điểm giá 27/09/2026. Bà con Đắk Lắk trồng xen canh có thể theo dõi thêm giá cà phê Đắk Lắk.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao sầu Thái Tây Nguyên đắt hơn miền Tây, còn Ri6 thì ngược lại? Theo bảng giá ngày 27/09/2026, Thái A Tây Nguyên ở 77.000 – 90.000 đồng/kg so với 67.000 – 70.000 đồng/kg tại miền Tây, còn Ri6 A miền Tây ở 55.000 – 63.000 đồng/kg so với 35.000 đồng/kg tại Tây Nguyên.

Hàng kem, hàng dạt, hàng xô khác hàng tuyển thế nào về giá? Cùng ngày, sầu Thái hàng kem Đắk Lắk là 14.000 đồng/kg, hàng dạt 28.000 đồng/kg, hàng xô AB 45.000 đồng/kg, còn sầu Thái loại A cơm chuẩn cùng vùng đạt 92.000 đồng/kg.

Trung Quốc nhập nhiều hơn thì giá vườn có tăng theo không? Không nhất thiết. Lượng nhập bảy tháng đầu năm 2026 tăng 45%, nhưng giá tại chợ đầu mối Giang Nam tháng 8/2026 lại thấp hơn cùng kỳ năm trước (CafeF, 24/8/2026). Lượng và giá là hai chỉ số riêng biệt.

Mã số vùng trồng có ảnh hưởng tới giá bán không? Mã số vùng trồng và hồ sơ truy xuất là điều kiện để lô hàng đi chính ngạch sang Trung Quốc. Hàng thiếu hồ sơ hợp lệ thường chỉ tiêu thụ được trong nước hoặc ở nhóm hàng dạt, nơi mặt bằng giá thấp hơn nhiều.

Nguồn tham khảo

Dữ liệu chỉ mang tính tham khảo. Vui lòng xác nhận với thương lái địa phương trước khi giao dịch.